TÓM TẮT QUY TRÌNH CANH TÁC CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI THEO VIETGAP

(CTV) - I. Sơ lược một số yêu cầu trong canh tác trồng trọt theo VietGAP

1. Tập huấn:

- Người lao động phải được tập huấn (nội bộ hay bên ngoài) về VietGAP hoặc có kiến thức về VietGAP ở công đoạn họ trực tiếp làm việc.

- Nếu sử dụng các hóa chất đặc biệt cần được tập huấn theo quy định hiện hành của nhà nước.

- Người kiểm tra nội bộ phải được tập huấn (nội bộ hay bên ngoài) về VietGAP hay có kiến thức về VietGAP và kỹ năng đánh giá VietGAP.

2. Cơ sở vật chất:

- Đất trồng/Giá thể: Phải có nguồn gốc rõ ràng, ghi và lưu hồ sơ về thành phần nguyên liệu và chất bổ sung vào giá thể. Không sử dụng Methyl Bromide để khử trùng đất/giá thể (nếu có), trường hợp sử dụng hóa chất để khử trùng phải đảm bảo thời gian cách ly khi sản xuất và phải ghi và lưu hồ sơ về ngày khử trùng, phương pháp khử trùng, hóa chất và thời gian cách ly (theo QCVN 03-MT:2015/BTNMT).

- Nước tưới: Phải đáp ứng về chỉ tiêu vi sinh vật (E.coli) không vượt quá giới hạn tối đa cho phép theo quy định đối với chất lượng nước mặt (theo QCVN 08- MT:2015/BTNMT).

- Dụng cụ chứa hoặc kho chứa phân bón, thuốc BVTV và hóa chất khác phải kín, không rò rỉ ra bên ngoài; Có dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm; Nếu là kho thì cửa kho phải có khóa và chỉ những người có nhiệm vụ mới được vào kho. Không đặt trong khu vực sơ chế, bảo quản sản phẩm, sinh hoạt và không gây ô nhiễm nguồn nước.

 - Quản lý chất thải bao gồm: Vỏ thuốc bảo vệ thực vật, bao bì phân bón phải được thu gom trong các vật chứa kín (có nắp đậy và có đáy) và chuyển ra khỏi khu vực sản xuất để xử lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Các chất thải trong quá trình sản xuất phải được thu gom và xử lý.

 - Cần có sẵn dụng cụ, vật liệu xử lý trong trường hợp đổ, tràn phân bón, thuốc BVTV và hóa chất. Trong kho phân bón và thuốc BVTV cần có xô cát, chổi nhỏ, túi nylon để xử lý khi có sự cố. 

- Nhà sơ chế, bảo quản sản phẩm (nếu có) phải được xây dựng ở vị trí phù hợp đảm bảo hạn chế nguy cơ ô nhiễm từ khói, bụi, chất thải, hóa chất độc hại từ hoạt động giao thông, công nghiệp, làng nghề, khu dân cư, bệnh viện, khu chăn nuôi, cơ sở giết mổ, nghĩa trang, bãi rác và các hoạt động khác.

 - Khu vực sơ chế phải được bố trí theo nguyên tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng để tránh lây nhiễm chéo.

 - Trang thiết bị, máy móc, dụng cụ phục vụ sản xuất, sơ chế phải được làm sạch trước, sau khi sử dụng và bảo dưỡng định kỳ nhằm tránh gây tai nạn cho người sử dụng và làm ô nhiễm sản phẩm.

 - Bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm phải đáp ứng quy định của pháp luật về bao bì, dụng cụ tiếp xúc với thực phẩm, theo QCVN 12-1:2011/BYT, QCVN 12-2:2011/BYT, QCVN 12-3:2011/BYT.

 - Phải có sơ đồ về: Khu vực sản xuất; nơi chứa phân bón, thuốc BVTV, trang thiết bị, máy móc, dụng cụ phục vụ sản xuất, sơ chế; nơi sơ chế, bảo quản sản phẩm (nếu có) và khu vực xung quanh.

 - Phải có quy trình sản xuất nội bộ bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng cây trồng hoặc nhóm cây trồng, điều kiện của từng cơ sở sản xuất và các yêu cầu của VietGAP.

- Bảo vệ tài nguyên đất bằng các biện pháp canh tác phù hợp tránh gây ô nhiễm môi trường và suy thoái tài nguyên đất như: hạn chế sử dụng phân hóa học, tăng cường sử dụng phân hữu cơ; trồng xen, luân canh với một số cây có khả năng cải tạo đất; có biện pháp chống xói mòn đất dốc.

- Bảo vệ tài nguyên nước bằng các biện pháp kiểm soát việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tránh gây ô nhiễm cho nguồn nước. Nơi xử lý phân hữu cơ (nếu có) được cách ly tránh gây ô nhiễm nguồn nước. Bón phân theo quy trình sản xuất, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi không cần thiết, lựa chọn thuốc bảo vệ thực vật ít gây ô nhiễm (thuốc bảo vệ thực vật có độ độc thấp, thuốc sinh học hoặc có nguồn gốc sinh học), tính toán lượng thuốc bảo vệ thực sử dụng phù hợp, tránh dư thừa; áp dụng các biện pháp sử dụng thuốc tiết kiệm tránh gây ô nhiễm các khu vực xung quanh (ví dụ: phun sương, để sát vào bộ phận cần phun thuốc tránh gió thổi sang khu vực khác...). Cần áp dụng tưới tiêu hiệu quả nhằm hạn chế tối đa lượng nước thất thoát và rủi ro tác động xấu đến môi trường như: tưới nhỏ giọt, tưới phun (tưới phun sương, tưới tia)... 

3. Quy trình sản xuất

- Tổ chức, cá nhân sản xuất theo VietGAP phải ghi chép và lưu giữ đầy đủ các thông tin như:

+ Kết quả đánh giá các chỉ tiêu gây mất ATTP trong đất/giá thể, nước tưới/sơ chế và sản xuất;

+ Bảng theo dõi mua/tự sản xuất vật tư đầu vào;

+ Bảng theo dõi quá trình sản xuất và bảng tiêu thụ sản phẩm.

- Tổ chức, cá nhân sản xuất theo VietGAP phải tự kiểm tra hoặc thuê kiểm tra viên kiểm tra nội bộ xem việc thực hiện sản xuất, ghi chép và lưu trữ hồ sơ đã đạt yêu cầu chưa. Nếu chưa đạt yêu cầu thì phải có biện pháp khắc phục và được lưu trong hồ sơ.

- Hồ sơ phải được thiết lập cho từng chi tiết trong các khâu thực hành VietGAP và được lưu giữ tại cơ sở sản xuất.

- Phải có quy định và thực hiện lưu trữ, kiểm soát tài liệu và hồ sơ. Thời gian lưu trữ hồ sơ tối thiểu là 2 năm (đối với sản phẩm tối thiểu 12 tháng tính từ ngày thu hoạch) để phục vụ việc kiểm tra nội bộ và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm.

3. Quản lý sản phẩm và truy nguyên nguồn gốc

- Sản phẩm trước và sau thu hoạch cần phải được phân tích theo các chỉ tiêu về: giới hạn tối đa dư lượng thuốc BVTV theo Thông tư 50/2016/TT-BYT, giới hạn ô nhiễm kim loại nặng, trong thực phẩm theo QCVN 8-2:2011/BYT, giới hạn ô nhiễm độc tố vi nấm trong thực phẩm theo QCVN 8-1:2011/BYT. Trường hợp phát hiện các chỉ tiêu vượt mức giới hạn tối đa cho phép phải điều tra nguyên nhân, có biện pháp khắc phục hiệu quả, lập thành văn bản và lưu hồ sơ.

 - Cơ sở sản xuất phải lấy mẫu và phân tích sản phẩm theo quy định trên cơ sở kết quả đánh giá nguy cơ trong quá trình sản xuất.

- Đánh giá nguy cơ là quá trình xác định các mối nguy; phân tích và đánh giá rủi ro liên quan đến mối nguy đó và xác định cách thức thích hợp để loại bỏ mối nguy hoặc kiểm soát rủi ro khi không thể loại bỏ mối nguy.

4. Ghi chép và lưu giữ hồ sơ

- Hồ sơ ghi chép quá trình sản xuất phải được thiết lập và duy trì để cung cấp các bằng chứng cho khách hàng và thanh tra viên về việc đáp ứng các yêu cầu của VietGAP. Hồ sơ ghi chép đồng thời là tài liệu hỗ trợ việc truy xuất nguồn gốc các lô sản phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm và điều tra, xác định nguyên nhân ô nhiễm.

- Các tài liệu và biểu mẫu ghi chép cần có trong hồ sơ VietGAP bao gồm:

+ Bản đồ khu vực sản xuất;

+ Hồ sơ lấy mẫu, phân tích mẫu đất, nước;

+ Nhật ký mua hoặc sản xuất giống; nhật ký mua và sử dụng phân bón, chất bón bổ sung; nhật ký mua và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; nhật ký thu hoạch và đóng gói; xuất bán sản phẩm; đào tạo, tập huấn người lao động;

+ Bảng kiểm tra, đánh giá;

+ Các tài liệu, văn bản khác.

- Để hệ thống truy xuất hồ sơ có hiệu quả, nhà sản xuất cần đảm bảo:

+ Mỗi lô đất được nhận diện bằng tên gọi hoặc mã số riêng.

+ Các thực hành GAP tại mỗi lô vườn trồng hoặc đối với lô quả tươi đã được đóng gói

+ Sản phẩm được đóng gói, ghi nhãn theo quy định và có mã số nhận diện rõ ràng.

+ Thông tin được lưu giữ cho mỗi lô hàng như số nhận diện, ngày cung cấp, nguồn hàng và nơi hàng được chuyển tới.

+ Hồ sơ phải được lưu giữ ít nhất 12 tháng tính từ ngày thu hoạch.

5. Các biện pháp để giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm:

- Thuốc bảo vệ thực vật phải được lưu trữ, bảo quản trong đúng các thùng chứa, bao bì của thuốc và phải có nhãn rõ ràng để tránh sử dụng sai hướng dẫn và xác định được thời hạn sử dụng của thuốc.

- Trường hợp các thùng, bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật gốc bị hư hỏng phải chuyển sang bao bì khác thì phải đảm bảo rằng các bao bì, thùng chứa mới phải được ghi lại đầy đủ các thông tin trên nhãn của bao bì bảo quản gốc để tránh việc sử dụng không đúng hướng dẫn của từng loại thuốc.

- Các loại thuốc bảo vệ thực vật cần được bảo quản thành từng nhóm riêng biệt để tránh nhầm lẫn và thuận tiện cho sử dụng. Cần đảm bảo nguyên tắc các loại thuốc dạng bột được bảo quản bên trên các loại thuốc dạng lỏng. Nên phân ra các khu vực chứa từng nhóm thuốc trừ sâu, trừ cỏ và hóa chất khác để tránh sử dụng nhầm lẫn.

- Áp dụng biện pháp quản lý cây trồng (ICM) và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) nhằm hạn chế việc sử dụng hoá chất BVTV.

+ Sử dụng tối đa và hài hòa các biện pháp phi hóa học trong quản lý dịch hại (biện pháp giống chống chịu, biện pháp canh tác, biện pháp thủ công cơ giới, biện pháp sinh học).

+ Khi cần thiết phải sử dụng hóa chất cần sử dụng các thuốc chọn lọc, có độ độc thấp, nhanh phân giải trong môi trường, có thời gian cách ly ngắn.

+ Dùng các loại thuốc sinh học để xử lý dịch hại vào thời kỳ gần ngày thu hoạch. Phải triệt để đảm bảo thời gian cách ly.

II. Kỹ thuật trồng cây bưởi theo VietGAP

1. Thời vụ trồng:

Thời vụ thích hợp trồng cây bưởi ở miền Bắc vào mùa xuân (tháng 2 đến tháng 4) và mùa thu (tháng 8 đến tháng 10). Trong điều kiện chủ động được nước tưới, trồng vào vụ thu cây ổn định sinh trưởng, đến mùa xuân năm sau cây sinh trưởng tốt hơn.

2. Chuẩn bị đất trồng:

- Đất trồng mới cây bưởi cần được giải phóng trước từ 4 - 6 tháng.

- Nếu là đất chu kỳ 2 nên trồng 2-3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất, trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ. 

3. Đào hố và bón lót:

Sau khi đã thiết kế xong tiến hành đào hố và bón lót trước lúc trồng cây khoảng 1 tháng.  

- Kích thước hố: Nguyên tắc đất xấu phải đào rộng và sâu, đất tốt đào hố nhỏ và nông hơn.

- Thông thuờng hố trồng cây bưởi là: 60cm x 60cm x 60cm; lưu ý: Khi đào hố xong dùng đất đào lên với đất phá thành lấp xuống 4/5 hố, phần đất còn lại trộn đều với phân chuồng + vôi + lân lấp trên mặt hố cao hơn mặt đất vườn 15 - 20 cm.

4. Lượng phân bón lót (tính cho 1 hố)

- Phân hữu cơ (phân chuồng hoai mục): 50 - 60kg + Phân lân Supe: 1 - 2kg + Vôi bột: 1kg + NPK tổng hợp bón lót: 0,2 - 0,3kg  

- Nếu không có phân chuồng hoai mục thì có thể sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh để thay thế với lượng bón 0,5 - 1kg/hố/cây.  

5. Trồng cây: Khi trồng, đào lỗ giữa mô (xé bỏ túi bầu Polymer); đối với đất bằng đặt bầu cây con xuống sao cho mặt bầu cao hơn mặt mô từ 3 - 5 cm; đối với đất đồi đặt bầu cây con ngay trên mặt đất.

Dùng tay ấn nén đất xung quanh bầu cây tạo sự liên kết giữa đất ở ngoài và bầu cây. Khi đặt cây phải xoay hướng cành ghép theo hướng chiều gió để tránh gẫy nhánh, cụ thể cắm cọc để giữ cây con khỏi tác hại của gió. Trồng xong tưới đẫm nước và dùng cỏ mục, rơm rạ khô để tủ gốc. 

6. Chăm sóc sau trồng:

- Sau khi trồng phải tưới nước thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết khô nắng mà có thể tưới bổ xung chống hạn cho cây.  

- Làm cỏ và quản lý cỏ dại: Những năm đầu cây còn nhỏ chưa giao tán phải làm sạch cỏ gốc thường xuyên, làm cỏ gốc theo hình chiếu của tán cây, phần cỏ còn lại trong vườn cần được giữ lại với mục đích giữ ẩm cho vườn, chống xói mòn, rửa trôi…; Áp dụng biện pháp cắt cỏ trong vườn cây bưởi để trả lại phân xanh cho đất, không sử dụng thuốc trừ cỏ trong vườn cây bưởi (bộ rễ cây bưởi rất mẫn cảm với các loại thuốc trừ cỏ). 

+ Cây trồng xen: Diện tích đất bằng hoặc hơi dốc nên trồng cây phân xanh ở giữa các hàng cây để vừa che phủ đất giữ ẩm, chống cỏ dại, vừa tạo nguồn phân xanh cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây. Trồng xen cây họ đậu (lạc, đậu tương, đậu đen, đậu xanh…), các loại cây dược liệu, cây rau thơm…dưới tán cây bưởi trong những năm đầu cây chưa giao tán. Trồng xen phải theo phương châm cây trồng xen không chèn cây trồng chính 

7. Biện pháp bón phân cho cây bưởi theo VietGAP 

7.1. Bón phân cho cây bưởi theo VietGAP thời kỳ Kiến thiết cơ bản (cây chưa có quả)  

- Lượng phân bón cho một cây/năm 

TT

Năm trồng

Phân hữu cơ (kg)

Lân super (kg)

Vôi bột (kg)

Hữu cơ vi sinh (kg)

Phân NPK tổng hợp (kg)

1

Năm 1

30

0,5

1

2

1

2

Năm 2

30

1

1

3,5

2

3

Năm 3

40

2

1

5

2,5

- Phương pháp bón phân cho cây

+ Bón lót: 100% phân hữu cơ + 100% lân + 100% vôi; thời gian bón vào tháng 11 và tháng 12.

Lưu ý: Bón phân chuồng, lân và vôi bột: Đối với diện tích canh tác tương đối bằng phẳng: Cuốc rãnh rộng 30 cm, sâu 10-15 cm chiếu theo hình tán cây; đối với diện tích có độ dốc cao (dễ bị rửa trôi) thì rạch rãnh xung quanh tán sâu khoảng 0,5cm, rộng khoảng 40-50 cm; rắc phân rồi lấp đất lại; để 2, 3 ngày cho khô các đầu rễ rồi mới bón phân (hạn chế nấm phytophthora và Fusarium…xâm nhập).

+ Bón thúc: Hỗn hợp đạm, kali rắc đều xung quanh mép tán, tranh thủ lúc trời mưa nhỏ hoặc mới mưa xong để bón. Trường hợp không mưa phải tưới nước sau khi bón hoặc rạch rãnh xung quanh tán và lấp đất.

Lần 1 bón vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 để thúc lộc xuân, bón 1/3 lượng phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp ở thời kỳ này thường không có mưa nên cần kết hợp tưới nước đảm bảo luôn đủ độ ẩm 60-70%.

Lần 2 bón vào cuối tháng 4 để thúc lộc hè, bón 1/3 phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp.

Lần 3 bón vào tháng 7 để thúc lộc thu, ta bón nốt phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp còn lại.

Lưu ý: Bón phân hữu cơ vi sinh, NPK tổng hợp: Rạch rãnh xung quanh tán sâu khoảng 0,5 cm; rắc phân rồi lấp đất lại.

7.2. Bón phân cho cây bưởi theo VietGAP thời kỳ Kinh doanh (cây mang quả).

 - Bộ rễ tơ của cây bưởi có vai trò hút nước và chất dinh dưỡng để nuôi cây, nuôi quả... Bộ rễ tơ khỏe mạnh trong giai đoạn vườn cây kinh doanh là cực kỳ cần thiết. Nhất là vào mùa mưa khi vườn bưởi bị ngập cục bộ, bộ rễ tơ bị ngập hư hỏng nhiều; Nên trước mỗi thời điểm bón phân khoảng 5 - 7 ngày cần sử dụng thêm các sản phẩm có chứa thành phần Humic, Trimix B1… để kích rễ tơ phát triển. Bộ rễ tơ khỏe sẽ giúp cây hấp thu được tối đa lượng phân bón chúng ta bón để nuôi quả. Giúp quả phát triển tốt nhất, tránh tình trạng tồn dư phân bón làm chai cứng đất.

 - Lượng phân bón được khuyến cáo sử dụng theo bảng sau

TT

Loại phân

Lượng phân bón

Cây cho năng suất (kg/cây/năm)

20

40

60

90

120

150

1

Phân hữu cơ

Kg/cây/năm

40

50

60

80

100

120

2

Lân supe

Kg/cây/năm

1

1,5

2

2,5

3

3,5

3

Vôi

Kg/cây/năm

1,5

1,5

1,5

1,5

1,5

1,5

4

Phân Hữu cơ vi sinh

Kg/cây/năm

2

2,5

3,5

4,5

5,5

6,0

5

Phân tổng hợp NPK

Kg/cây/năm

1,5

2

2,5

3,5

4,5

5

- Thời kỳ bón phân cho cây bưởi:

+ Lần 1 (bón lót): Sau khi thu hoạch, bón toàn bộ phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, lân su pe và vôi.

+ Tháng 1- 2 bón 30% lượng NPK (Bón trước lúc ra hoa hay bón đón hoa)

+ Tháng 5 bón 40% lượng NPK

+ Tháng 7 bón nốt lượng phân còn lại.

8. Giữ ẩm:

- Giữ cỏ trên vườn cây, cỏ vừa có tác dụng giữ ẩm, vừa là nơi cư trú của các loại thiên địch và vừa chống sói mòn đất mặt. Loại cỏ sử dụng là những loại cỏ có bộ rễ không ăn sâu, không để cỏ quá tốt (cỏ mần trầu, cỏ trai …).

Lưu ý: Giữ cỏ cách gốc cây khoảng 50 - 100 cm để tránh sự xâm nhập của một số loại nấm đất lên gốc, thân chính của cây.

9. Cắt tỉa, tạo tán cho cây bưởi trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây chưa mang quả).

Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng xong, bấm ngọn toàn bộ lộc của cây bưởi để ra lộc đồng đều. Sau khi ra lộc cắt tỉa bớt để lại 2 - 3 cành to mập nhất phân bố đều về các hướng để làm cành khung gọi là cành cấp 1.

Khi cành cấp 1 cao khoảng 50 - 60 cm thì cắt đoạn ngọn chỉ để lại đoạn cành dài 40 - 45 cm. Cành cấp 1 sau khi cắt tiếp tục mọc rất nhiều cành, song mỗi cành cấp 1 cũng chỉ để lại nhiều nhất 2 - 3 cành phân bố theo hướng thẳng đứng và vươn ra ngoài tán; những cành này gọi là cành cấp 2.

Tiếp tục làm như vậy sẽ có được các cành cấp 3, cấp 4,... Cắt bỏ những cành mọc xiên vào trong tán tạo cho cây bưởi có dáng hình chữ Y (khai tâm). Và sau 3 năm cây bưởi có một bộ khung tán cơ bản để bắt đầu cho quả năm sau.

10. Cắt tỉa, tạo tán cho cây bưởi trong thời kỳ kinh doanh (cây mang quả) 

Giai đoạn cắt tỉa chính của cây bưởi là vào mùa đông, thời điểm sau mỗi vụ thu hoạch.

- Cắt tỉa hàng năm: Thời kỳ cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch đều phải đốn tỉa hạ tán, khống chế chiều cao cây bưởi từ 3 đến 3,5 m; Những thời kỳ chăm sóc khác cần cắt tỉa những cành tăm, cành khô, cành vượt, cành sâu bệnh. Công việc đốn tỉa phải được tiến hành thường xuyên nhằm tạo cho cây có sức bật mầm mới, thoáng, không sâu bệnh.

- Giai đoạn cây nuôi quả cần cắt tỉa với mục đích tập trung dinh dưỡng cho quả. Tiến hành cắt bỏ các cành bị sâu, cành bệnh, cành lộc ở phía trên và các cành thừa không có tác dụng; chọn ngày nắng ráo để cắt tỉa; tránh cắt vào trời mưa sẽ dễ lây lan bệnh từ cây này qua cây khác và lây bệnh từ cây sang quả. Nếu có thời gian cắt tỉa định kỳ hàng tháng sẽ giúp vườn thông thoáng sẽ giảm thiểu được rất nhiều nấm bệnh gây hại.

- Sau mỗi lần cắt tỉa tiến hành quét nước vôi trong lên các vết cắt để phòng trừ nấm bệnh và xén tóc đẻ trứng.

III. Kỹ thuật trồng cây cam theo VietGAP

1. Tuyển chọn cây giống.

- Cây giống phải được nhân giống từ cây so (cây đầu dòng) hay cây s1 (vườn cây đầu dòng), được sản xuất từ những cơ sở có đủ điều kiện sản xuất cây giống cây trồng theo quy định. Giống phải được xác nhận không mang mầm bệnh vàng lá Greening và bệnh Tristeza, độ thuần cao, sinh trưởng phát triển tốt, chiều cao cây tính từ mắt ghép trở lên tối thiểu là 30cm, đường kính gốc ghép đo cách mặt bầu 10cm đạt 0,8-1cm, đường kính thân cây đo trên mắt ghép 2cm đạt trên 0,6cm trở lên, mắt ghép tiếp hợp tốt với gốc ghép, đã liền sẹo và không có hiện tượng bong tróc.

2. Chọn đất, thiết kế vườn, trồng và chăm sóc sau trồng.

2.1. Chọn đất, làm đất

- Đất trồng cam phải là đất tơi sốp, thoáng khí, thoát nước tốt và không ngập úng. Đất có tầng canh tác dày tối thiểu trên 1 mét; độ PH thích hợp 5,5- 6,5.

- Đất phải được làm sạch, đánh bỏ hết gốc rễ cây trồng trước đó. Nếu đất gồ gề thi cần san ủi cho phẳng đồng ruộng sau đó cầy bừa thật kỹ để tạo độ tơi xốp.

2.2. Thiết kế vườn trồng.

-  Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 30 - 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu).

- Đất có độ dốc từ 50 - 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức.

- Ở độ dốc 80 - 100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

- Thiết kế đường phân lô thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư và thu hoạch sản phẩm.

2.3. Tạo sự đa dạng: Để tạo môi trường cho thiên địch, trong vườn cam, sự đa dạng có thể được tạo ra bằng cách trồng cây làm hàng rào chắn gió trồng xen cây họ đậu, cây dược liệu, cây cốt khí…để cải tạo đất

2.4. Mật độ trồng.

- Tùy theo từng giống, vị trí đất và ý muốn của hộ mà bố trí mật độ và cơ cấu cây trồng cho hợp lý, thông thường khoảng cách trồng: 4m x 5m hoặc 5m x 5m; khoảng 400 cây đến 500 cây/ha.

2.5. Đào hố và bón phân lót:

a. Đào hố: Đào hố và bón lót trước lúc trồng cây khoảng 1 tháng. Kích thước hố theo nguyên tắc đất xấu phải đào rộng và sâu, đất tốt đào hố nhỏ và nông hơn. Thông thường hố trồng cây cam đào hố 60cm x 60cm x 60cm. Khi đào hố xong dùng đất đào lên với đất phá thành lấp xuống 4/5 hố, phần đất còn lại trộn đều với phân chuồng + vôi + lân lấp trên mặt hố cao hơn mặt đất vườn 15 - 20 cm.

b. Bón phân lót:

- Lượng phân bón lót (tính cho 1 hố): Phân chuồng hoai mục: 50 - 60kg + Phân lân Supe: 1 - 2kg + Vôi bột: 1kg + NPK tổng hợp: 0,2 - 0,3kg

- Nếu không có phân chuồng hoai mục thì có thể sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh để thay thế với lượng bón 0,5 - 1kg/hố/cây.

- Vôi bột được xử lý trên toàn bộ diện tích và xung quanh thành hố. 

- Phân hữu cơ được trộn đều với lớp đất mặt và phân lân sau đó đưa xuống hố lấp kín phân. 

* Lưu ý: Sau khi xuống phân ít nhất 1 tháng mới tiến hành trồng.

3. Thời vụ trồng: Tốt nhất là tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9. Khi thời tiết đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa thì không được trồng cây, đất quá nhão cũng chưa nên trồng mà phải đợi cho đất tơi xốp trở lại.

4. Chuẩn bị đất trồng và cách trồng:

- Đất trồng mới cây cam cần được giải phóng trước từ 4 - 6 tháng. Nếu là đất chu kỳ 2 nên trồng 2 - 3 vụ cây họ đậu để cải tạo đất, trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ. 

- Kiểm tra phân ủ dưới hố đã hoai mục thì trồng được. Khi trồng cần xác định vị trí đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon hoặc cỏ bầu cây giống, hạn chế việc vỡ bầu, đặt bầu cây sao cho mặt bầu cao ngang mặt đất sàn, những vị trí dốc phải đặt sâu hơn từ 1-3 cm so với mặt dốc trên của hố, những khu vực đất thấp, trũng, hay bị ngập úng vào mùa mưa thì phải trồng cây cao hơn mặt đất sàn khoảng 5cm.  

- Trồng cần đặt hướng mắt ghép ngược với hướng gió chính, ngắm cây cho thật thẳng hàng rồi vun dần đất nhỏ xuống trước, ấn chặt đất xung quanh bầu để cây đứng thẳng và tiếp xúc với nước. Lấy cọc cắm buộc vào thân chính tạo cho cây hạn chế bị mưa, gió to làm lay gốc, bầu cây, sau đó tưới nước cho cây.  

5. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, chắc chắn, bầu có đướng kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ 10-15 cm để giữ nước. Tưới nước và làm cỏ bầu thường xuyên và tủ bầu bằng rơm rạ để giữ ẩm giúp cây nhanh chóng phục hồi, bén rễ. Tủ bầu vào mùa mưa cần cách xa gốc cây từ 30-40cm, còn vào mùa khô thì có thể tủ gần gốc hơn nhưng không được quá sát gốc cây. Khi cây sinh trưởng bình thường thì mới tiến hành bón phân đạm khi đất ẩm (tranh thủ khi có mưa) với lượng nhỏ 0,02 - 0,04kg/cây, cần bón cách xa gốc, không được bón quá sát gốc sẽ làm chết cây.

6. Kỹ thuật chăm sóc cam thời kỳ kiến thiết cơ bản (cây chưa cho quả). 

6.1. Bón phân cho một cây/năm thời kỳ kiến thiết cơ bản

a. Lượng phân:

TT

Năm trồng

Phân hữu cơ (kg)

Lân super (kg)

Vôi bột (kg)

Hữu cơ vi sinh (kg)

Phân NPK tổng hợp (kg)

1

Năm 1

30

0,8

1

3

1,5

2

Năm 2

30

1

1

5

2,4

3

Năm 3

40

3

1

6,5

3,3

6.2. Phương pháp bón phân cho cây

- Bón lót: 100% phân hữu cơ + 100% lân + 100% vôi; thời gian bón vào tháng 11 và tháng 12.

Lưu ý: Bón phân chuồng, lân và vôi bột: Đối với diện tích canh tác tương đối bằng phẳng: Cuốc rãnh rộng 30 cm, sâu 10-15 cm chiếu theo hình tán cây; đối với diện tích có độ dốc cao (dễ bị rửa trôi) thì rạch rãnh xung quanh tán sâu khoảng 0,5cm, rộng khoảng 40-50 cm; rắc phân rồi lấp đất lại; để 2, 3 ngày cho khô các đầu rễ rồi mới bón phân (hạn chế nấm phytophthora và Fusarium…xâm nhập).

- Bón thúc: Hỗn hợp đạm, kali rắc đều xung quanh mép tán, tranh thủ lúc trời mưa nhỏ hoặc mới mưa xong để bón. Trường hợp không mưa phải tưới nước sau khi bón hoặc rạch rãnh xung quanh tán và lấp đất.

+ Lần 1 bón vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 để thúc lộc xuân, bón 1/3 lượng phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp ở thời kỳ này thường không có mưa nên cần kết hợp tưới nước đảm bảo luôn đủ độ ẩm 60-70%.

+ Lần 2 bón vào cuối tháng 4 để thúc lộc hè, bón 1/3 phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp.

+ Lần 3 bón vào tháng 7 để thúc lộc thu, ta bón nốt phân hữu cơ vi sinh và NPK tổng hợp còn lại.

Lưu ý: Bón phân hữu cơ vi sinh, NPK tổng hợp: Rạch rãnh xung quanh tán sâu khoảng 0,5 cm; rắc phân rồi lấp đất lại.

          6.3. Làm cỏ, cuốc ải, cày bừa giữa hàng trồng xen.

          - Làm cỏ trước những lần bón phân thúc trong phạm vi tán, rộng hơn mép tán 20-30cm. Diện tích còn lại nên để cỏ giữ ẩm và nơi cư trú cho thiên địch, nếu cỏ tốt quá thì phát sát gốc. Đất có độ dốc thấp thì trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh,... để cải tạo đất, chống cỏ dại, hạn chế xói mòn. Đất có độ dốc lớn thì trồng cây cốt khí theo đường đồng mức, cắt thân lá khi cây lớn làm phân xanh, vừa có tác dụng giữ ẩm, cải tạo đất, hạn chế xói mòn vv...

          - Trong những năm kiến thiết cơ bản nên tiến hành cày ải giữa hàng bưởi tạo cho đất tơi xốp vào tháng 11,12 cách mép tán từ 50cm trở lên. Trường hợp đất dốc không thể cày bằng máy thì dùng cuốc, xẻng.

          - Vào mùa khô không nên phát hay dãy sạch cỏ mà nên để cỏ giữ ẩm chống hạn cho vườn cây.

          6.4. Tưới nước giữ ẩm.

          - Tưới nước thường xuyên vào mùa khô để giữ ẩm, đảm bảo độ ẩm đất đạt 60-70% độ ẩm bão hoà. Trường hợp không chủ động nước tưới thì phải tủ bầu, để cỏ, trồng xen cây cốt khí để giữ ẩm.

          6.5. Tạo hình, tỉa cành, tạo tán. 

          - Sau khi cây ổn định tiến hành cắt định hình bộ khung tán, vị trí cắt cách mặt đất từ 30-40cm nơi có những mắt mầm nổi rõ (mắt thức). Mỗi cây tỉa chỉ để lại 2-3 cành cấp 1 so le về các phía, phân đều trên dưới. Khi cành cấp 1 cao 25-30cm lại bấm ngọn để tạo ra 2-3 cành cấp 2, từ đây bắt đầu chăm sóc ổn định để cây ra lộc tạo các cấp cành khác. Sau khi đã tạo được bộ khung cành ổn định, trong những năm đầu hạn chế cắt tỉa đau.

          - Thường xuyên cắt bỏ những cành lộc quá dài làm lệch tán, các cành bị bệnh, cành khô chết. Tỉa bỏ những chồi bưởi, chồi vượt, chồi quá thấp mọc trên thân già đã hoá gỗ. Việc tạo hình một năm tiến hành một lần vào tháng 11-12 khi cây đang nghỉ đông, còn việc tỉa bấm ngọn ta làm thường xuyên.

          6.6. Loại bỏ những cây bị bệnh và dặm lại cây.

          - Để đảm bảo độ đồng đều về mật độ và tốc độ sinh trưởng trước khi vào giai đoạn kinh doanh, cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện các cây bị bệnh như bệnh Greening, bệnh Tristeza cần loại bỏ kịp thời.

          - Những hố cây bị bệnh phải thay, đào rộng 80cm x 80cm x 80cm, xử lý vôi bột sau 3-4 tháng thì trồng dặm lại.

          - Lưu ý: Khi trồng dặm chọn những cây phát triển tốt, có khung cành ổn định, lấy chỗ đất mới để đưa vào ủ với phân hữu cơ trước khi trồng nhằm tránh cho cây bị nhiễm  lại bệnh qua đất, nhất là bệnh thối rễ. Các cây trồng dặm phải được chăm sóc đặc biệt hơn.

          7. Kỹ thuật chăm sóc cam thời kỳ kinh doanh

7.1. Lượng phân bón

TT

Loại phân

Lượng phân bón

Cây cho năng suất (kg/cây/năm)

20

40

60

90

120

150

1

Phân hữu cơ

Kg/cây/năm

40

50

60

80

100

120

2

Lân supe

Kg/cây/năm

1,5

2

2,5

3

3,5

4,0

3

Vôi

Kg/cây/năm

1,5

1,5

1,5

1,5

1,5

1,5

4

Phân Hữu cơ vi sinh

Kg/cây/năm

2,5

4,5

5,5

7,0

8,5

9,0

5

Phân tổng hợp NPK

Kg/cây/năm

1,5

2,5

3,5

4,5

5,5

6,5

7.2. Thời kỳ bón phân cho cam:

- Lần 1 (bón lót): Sau khi thu hoạch, bón toàn bộ phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, lân su pe và vôi.

- Tháng 1- 2 bón 30% lượng NPK (Bón trước lúc ra hoa hay bón đón hoa)

- Tháng 5 bón 40% lượng NPK

- Tháng 7 bón nốt lượng phân còn lại.

7.3. Tạo hình, tỉa cành, vệ sinh đồng ruộng, quét gốc.

a. Tạo hình, tỉa cành: Sau khi thu hoạch quả phải tiến hành cắt bỏ những cành tăm nằm bên trong tán và cành sát mặt đất, những cành bị khô, gãy, cành bị sâu bệnh, các chồi vượt, chồi bưởi để cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại. Dụng cụ cắt phải sắc, cắt phải sát vào thân cành chính. Thu dọn cành cắt đưa đi tiêu huỷ xa khu vườn.

b. Vệ sinh vườn cây: Việc vệ sinh đồng ruộng phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình sản xuất như: Làm cỏ, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh hại, thu gom quả thối rụng, quả bị ruồi hại, cắt cành khô, gãy,... đem đi tiêu huỷ bằng cách chôn sâu ngoài khu vực sản xuất hoặc đem đốt để hạn chế nguồn sâu bệnh hại. Đặc biệt không được đem những cành sâu bệnh, quả thối rụng, quả bị ruồi vàng gây hại,... đổ ra ngoài đường lô sẽ làm ô nhiễm môi trường và lây lan sâu bệnh trong khu vực.

c. Quét gốc: Mỗi năm một lần vào tháng 11, 12 sau khi thu hoạch phải tiến hành quét gốc cho bưởi để góp phần  hạn chế sâu bệnh hại, nấm địa y sống ký sinh trên thân cây. Độ cao quét gốc tuỳ theo độ cao của cây, thường từ 1- 1,5 m. Quét gốc nên dung vôi hoặc Boocdo 5-10%.

d Tưới nước, giữ ẩm: Cây cam có hai giai đoạn rất cần nước là thời kỳ phân hoá lộc xuân, mầm hoa đến lúc quả nhỏ (từ 1-2cm) và khi quả lớn; đặc biệt giai đoạn trước khi ra hoa, giai đoạn phát triển quả tức là vào cuối tháng 1, đầu tháng 2 và cuối tháng 3, đầu tháng 4 nhất thiết phải tưới đủ ẩm. Độ ẩm đất phải đạt 70% độ ẩm bão hoà đất.

Trường hợp những vườn không có điều kiện tưới nước vào mùa khô thì phải chủ động tìm biện pháp giữ ẩm phù hợp bằng cách:

- Thiết kế lô thửa có dải băng cây trên đường lô, những diện tích có độ dốc cao thì trên đỉnh đồi nhất thiết phải trồng cây rừng để giữ ẩm và hạn chế xói mòn.

- Trước khi vào mùa khô không được làm sạch cỏ mà nên để cỏ mọc để giữ ẩm.

- Hạn chế thấp nhất việc cày, cuốc ải.

- Bón phân hữu cơ hoai mục ngay sau khi đào rãnh bón phân để hạn chế nước bốc hơi.

- Trồng xen cây cốt khí trong các đường băng và cắt tỉa dần, vừa làm phân xanh, vừa giữ ẩm.

- Che phủ bằng rơm rạ, thân lá ngô, cỏ khô, vv… hoặc phủ nilon quanh tán cây và trên các đường băng có tác dụng để hạn chế cỏ dại, hạn chế sâu bệnh hại, hạn chế xói mòn và giữ ẩm.

- Thu hoạch đúng thời vụ để giúp cây có sức chống chịu tốt hơn với điều kiện khô hạn.

IV. Phòng trừ dịch hại cho cam, bưởi (cây ăn quả có múi).

1. Các biện pháp quản lý.

1.1. Biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp 

- Thiết lập hệ thống tự nhiên để ngăn ngừa hay giảm thiểu sâu, bệnh hại bằng cây trồng xen.

- Trồng một số cây trồng có tác dụng xua đuổi côn trùng (các loại rau thơm, rau gia vị, gừng, nghệ,....).

- Trồng xen lạc, đậu tương hoặc các loại đậu khác.

- Xây dựng hàng rào chắn gió (trồng cây keo bốn xung quanh vườn) để ngăn ngừa di chuyển của côn trùng theo gió.

- Thường xuyên vệ sinh vườn, nhất là sau thu hoạch nhằm loại bỏ nguồn bệnh hại, cắt đứt nguồn lây nhiễm.

- Cắt tỉa cành tạo cho vườn cây bưởi thông thoáng, tạo điều kiện bất lợi cho nhiều loại dịch hại, khống chế độ cao của cây để dễ dàng chăm sóc và thu hoạch.

- Cân bằng dinh dưỡng bằng bón phân hợp lý, tăng cường chất hữu cơ, làm giàu vi sinh vật có lợi.

1.2. Biện pháp cơ học và vật lý

-  Sử dụng bẫy, bả hoặc bắt bằng tay.

- Cần thiết có thể sử dụng biện pháp tưới nước áp suất cao lên chồi lá non, quả non trong mùa hanh, nóng để hạn chế bọ trĩ, nhóm nhện hại và sâu ăn lá.

1.3. Biện pháp sinh học

- Mỗi loài dịch hại có các loài thiên địch khống chế chúng cho nên cần được bảo vệ và khích lệ chúng phát triển. Tiến hành nhân nuôi và thả thiên địch khi chúng xuất hiện dưới ngưỡng phòng trừ.

- Các loài thiên địch trên cây bưởi như: Các loài bọ rùa, ong ký sinh, bọ ba khoang, chuồn chuồn cỏ, các loài nhện lớn và nhện nhỏ bắt mồi, bọ ngựa, kiến vàng, v.v...

1,4. Biện pháp hóa học:

- Kiểm tra thường xuyên tinh hình dịch hại trên vườn để quyết định phun hay không phun, nhìn chung chỉ dùng thuốc khi cần thiết, không phun định kỳ.

- Thực hiện 4 đúng khi sử dụng thuốc: đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng nồng độ và đúng cách. Khi tiến hành xử lý các loại thuốc BVTV thì nên sử dụng các loại thuốc thế hệ mới, thuốc nguồn gốc sinh học có hiệu lực cao khi sâu phát sinh gây hại.

2. Một số loài sâu hại chính và biện pháp phòng trừ

2.1. Bọ trĩ: Sống trên các bộ phận như cánh hoa, đài hoa, nụ hoa, cuống hoa, lá non, quả non. Sống tập trung chủ yếu hại trên hoa quả non. Trưởng thành ít bay, hoạt động mạnh vào buổi sáng và chiều mát. Cả trưởng thành và ấu trùng bọ trĩ màu vàng đều cắm vòi hút dinh dưỡng từ lá non, hoa, quả non. Nếu bị nặng hoa sẽ bị táp, nhanh tàn, cánh hoa rụng sớm, giảm tỷ lệ đậu quả; Trên lá non, bọ trĩ làm lá bị biến màu, cong queo; Trên trái, bọ trĩ tạo ra những mảng xám hoặc những phần lồi màu bạc trên vỏ quả.

Bọ trĩ qua đông trên cây hoa đơn buốt

Hình ảnh: Bọ trĩ

2.2. Sâu vẽ bùa: Trưởng thành cái đẻ trứng rải rác ở mặt dưới lá non, sát gân lá chính. Trứng nở ra Ấu trùng, Ấu trùng đục vào biểu bì mặt dưới lá tạo thành đường hầm ngoằn ngoèo. Ấu trùng chủ yếu gây hại ở lá non. Sâu phá hại ở tất cả các tháng trong năm; Nếu bị sâu vẽ bùa cây quang hợp kém, gây ảnh hưởng đến sức sinh trưởng đồng thời tạo ra những vết thương cơ giới, là cơ hội để bệnh loét, ghẻ xâm nhập và phát triển.

Hình ảnh: Lá cây bị sâu vẽ bùa

* Biện pháp phòng trừ bọ trĩ và sâu vẽ bùa:

- Bón phân cân đối, tưới nước, chăm sóc hợp lý để cho cây ra lộc, ra hoa và đậu quả tập trung.

- Tỉa cành, tạo tán cho thông thoáng để tránh ẩm độ cao.

- Bảo vệ thiên địch tự nhiên, nuôi kiến vàng trong vườn cây.

- Phun thuốc phòng 1 - 2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non, quả non, hiệu quả nhất lúc lộc non dài < 1cm; Khi chồi non dài < 1cm phun lần 1, sau phun lần 1 từ 6, 7 ngày thì phun lần 2; Phun ướt hết mặt lá non, quả non.

- Phun dầu khoáng hoặc sử dụng thuốc có hoạt chất Abamectin có nguồn gốc sinh học để phòng trừ.

2.3. Câu cấu: Là đối tượng dịch hại nguy hiểm bởi số lượng lớn, phàm ăn, chúng ăn cụt các đọt non, lá non, lá bánh tẻ và quả non. Quả bị hại nặng có thể rụng, quả bị nhẹ làm vỏ quả biến dạng, giảm phẩm cấp thương phẩm quả. Câu cấu trưởng thành xuất hiện sau các đợt mưa khi cây bưởi đang ra lộc hè và lộc thu. Câu cấu phá hại lộc làm ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây, trên lộc thu nó còn làm giảm năng suất vườn cây năm sau. Câu cấu là loài sâu hại đa thực, ngoài gây hại trên cây bưởi, chúng còn gây hại các cây ăn quả khác như xoài, nhãn, vải...

Hình ảnh: Câu cấu

* Biện pháp phòng, trừ câu cấu:

- Thường xuyên kiểm tra vườn cây bưởi, nhất là các vườn ươm, vườn kiến thiết cơ bản và đầu thời kỳ kinh doanh để phát hiện sớm sự xuất hiện cũng như mật độ câu cấu gây hại và chủ động phòng trừ.

- Dùng vợt hoặc tay bắt trưởng thành (bướm) để giết chết. Khi câu cấu xuất hiện nhiều cần phun thuốc có hoạt chất Abamectin nguồn gốc sinh học để phòng trừ.

2.4. Nhện đỏ: Xuất hiện quanh năm, phát sinh gây hại mạnh vào các tháng mùa khô, gây hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, nhện có vòng đời ngắn nên chu kỳ phát sinh gây hại nhanh, chúng hút dinh dưỡng trong mô lá làm lá mất diệp lục, bạc màu mất khả năng quang hợp và giảm tuổi thọ dẫn đến cây sinh trưởng kém.

Hình ảnh: Nhện đỏ

2.5. Nhện rám vàng: Nhện rám vàng tập trung chích hút dịch trên vỏ quả, làm vỏ quả biến màu, chuyển sang màu xỉn. Ðây là loài nhện gây hại quan trọng nhất hiện nay trên cây bưởi. Nhện có thể gây hại trên quả, lá và cành nhưng gây hại quan trọng nhất là trên quả. Nhện gây hại từ khi quả vừa mới đậu cho đến khi thu hoạch, tuy nhiên nhện tập trung mật độ rất cao trên quả non. Gây hại bằng cách hút dịch của vỏ quả (trái), tập trung nhiều trên phần vỏ trái hướng ra phía ngoài tán lá. Sự ăn phá của nhện trên vỏ trái làm trái bị rám và có hiện tượng da lu (mầu nâu, nâu đen, hoặc mầu đồng đen) và da cám (vỏ hơi bị sần sùi hoặc không trơn láng, mầu nâu xám, xám trắng hoặc xám bạc). Phát sinh chủ yếu trong thời kỳ khô hạn kéo dài.

2.6. Nhện trắng: Là loài đa thực, sống ở mặt dưới lá non, trong kẽ lá, búp ngọn non, nụ hoa, quả non. Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu xám trắng ở trên vỏ quả. Nhện trắng làm lá non và búp non chùn lại. Nhện trắng thường tấn công phần vỏ trái non nằm trong tán lá, khi trái bị hại, bề mặt vỏ trái bị mất màu, giống như triệu chứng da cám.

* Biện pháp phòng, trừ nhện đỏ, nhện rám vàng và nhện trắng.

- Bón phân cân đối, tưới nước đầy đủ hợp lý trong mùa nắng để làm tăng ẩm độ vườn, chăm sóc cho cây khỏe, tăng sức chống chịu. Cắt tỉa cành tạo tán cho vườn thông thoáng.

- Bảo vệ và lợi dụng các loài thiên địch tự nhiên. Phun nước lã thường xuyên lên cây vào những ngày nắng nóng, hanh khô để làm giảm mật độ nhện.

- Khi cần thiết thì dùng thuốc có chứa hoạt chất Abamectin kết hợp với dầu khoáng, pha nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất… phun ướt cả 2 mặt lá, quả non. Nên sử dụng thuốc có nguồn gốc sinh học, nếu đã bị nhện phá hại nặng phải phun liên tục 2 - 3 lần với các loại thuốc khác nhau tránh hiện tượng nhờn thuốc đối với nhện đỏ, mỗi lần cách nhau 5 - 7 ngày 

2.7. Một số loại rệp: (rệp kim, rệp xanh, rệp vảy ốc, rệp sáp,...) gây hại trên lộc non, trên lá, cành, thân cây,... chúng hút nhựa cây và truyền một số loại bệnh virus làm cho cành lộc, lá cây bị vàng, nhiễm bệnh. Chúng  phát sinh gây hại gần như quanh năm, nhất là vào mùa hè và mùa thu.

Rệp xanh 

Rệp kim 

Rệp sáp 

* Biện pháp phòng trừ:

- Bón phân cân đối, tưới nước, chăm sóc hợp lý để cho cây ra lộc, ra hoa và đậu quả tập trung. 

- Tỉa cành, tạo tán cho thông thoáng để tránh ẩm độ cao.

- Bảo vệ thiên địch tự nhiên, nuôi kiến vàng trong vườn cây.

- Phun thuốc phòng 1 - 2 lần trong mỗi đợt cây có lộc non, quả non, hiệu quả nhất lúc lộc non dài < 1cm; Khi chồi non dài < 1cm phun lần 1, sau phun lần 1 từ 6, 7 ngày thì phun lần 2; Phun ướt hết mặt lá non, quả non.

- Phun dầu khoáng hoặc sử dụng thuốc có hoạt chất Spirotetramat hoặc Abamectin... theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất 2 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày

2.8. Ngài chích hút: Ngài chích hút hoạt động ban đêm. Thường từ 6 - 7 giờ tối bay từ rừng hoặc cây bụi đến vườn cây bưởi. Gây hại chủ yếu từ 7 - 10 giờ đêm. Khoảng 4 - 5 giờ sáng bay khỏi vườn.

Hình ảnh: Ngài chích hút

* Biện pháp phòng, trừ: Điều tra phát hiện thời gian xuất hiện của ngài hút quả. Dùng vợt bắt và giết thành trùng vào ban đêm, trong khoảng từ 18 - 22 giờ. Sử dụng bẫy thức ăn (chuối xiêm, chuối già chín và mít chín) để dẫn dụ ngài.

- Sử dụng bẫy bả có tẩm các loại thuốc trừ sâu không hoặc ít mùi để không ảnh hưởng đến mùi thơm của bẫy mồi để diệt trưởng thành. Nên chú ý đặt bẫy treo ở những cây xung quanh vườn, đặc biệt phía gần rừng hoặc nhiều cây bụi.

- Sử dụng túi bao quả, màn bao quả khi thấy ngài hút quả bắt đầu xuất hiện

2.9. Ruồi vàng: Trưởng thành cái dùng ống đẻ trứng châm qua vỏ quả, đẻ vào nơi tiếp giáp vỏ quả và thịt quả; ấu trùng ăn thịt quả, tuổi càng lớn đục vào phía trong. Đẫy sức chúng rời khỏi quả, rơi xuống đất và chui vào đất ở dưới tán cây để hóa nhộng. Ruồi đục quả thường thích vườn cây bưởi um tùm, rậm rạp, nhất là vườn cây bưởi gần ven rừng.

Hình ảnh: Ruồi vàng

* Biện pháp phòng, trừ:

- Cắt tỉa, tạo tán cho vườn thông thoáng.

- Sử dụng bả protein để diệt ruồi đực. Treo bẫy lên cây nơi râm mát ở độ cao 1,5 - 2m. Mỗi ha treo 20 - 30 bẫy, cứ sáu tuần thay bả một lần.

- Thuốc diệt ruồi vàng đục trái Vizibon D: hộp nhỏ chứa 2 chai thuốc gồm 1 chai lớn chứa chất dẫn dụ ruồi và 1 chai nhỏ chứa chất diệt ruồi. Khi sử dụng mở nắp 2 chai thuốc. Đổ hết thuốc diệt ruồi vào chai chất dẫn dụ, đậy nắp kín, lắc đều. Sau đó tẩm khoảng 1ml hỗn hợp thuốc đã trộn vào bẫy, treo lên cây bốn xung quanh vườn bưởi. Treo từ 2 - 3 bẫy cho 1.000 m2 . Sau 20 ngày treo, đổ hết xác ruồi chết, tẩm thuốc mới vào bẫy, tiếp tục treo lên cây.

- Sử dụng túi bao quả, màn bao quả khi thấy ruồi vàng bắt đầu xuất hiện, khi quả chín thì thu hoạch kịp thời, không để lâu trên cây.

- Thu nhặt quả bị hại đem tiêu hủy để diệt ấu trùng ở trong quả.

3. Một số bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

3.1. Bệnh Greening (vàng lá chè, vàng lá gân xanh) do virus gây hại, cây bị bệnh lá nhỏ, thịt lá biến vàng, cành, cây bị bệnh sinh trưởng còi cọc, ra hoa không đúng thời vụ, quả méo mó, ăn nhạt và đắng, nếu bị bệnh nặng cây sẽ chết khô dần. Môi giới truyền bệnh là các loài dịch hại chích hút, đặc biệt là con rầy chổng cánh, các loài rệp.

 

Hình ảnh: Cây bị bệnh Greening

* Biện pháp phòng, trừ:

- Sử dụng cây giống sạch bệnh đã được chứng nhận, không nên sử dụng cây giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc.

- Không trồng cây bưởi vào vùng có áp lực bệnh quá cao mà nên chuyển đổi cây trồng một thời gian và sau đó trồng lại.

- Trong vườn nên treo một số bẫy màu vàng để đánh giá sự xuất hiện của rầy chổng cánh. Trồng cây chắn gió để hạn chế mầm bệnh lây lan qua rầy chổng cánh, trồng xen với loại cây trồng khác như ổi, chuối, nhãn,... với mức độ thích hợp.

3.2. Bệnh tàn lụi Tristera và bệnh rỗ thân do Vius gây hại: Triệu trứng là cây dần tàn úa, lá vàng cả phiến lá và gân lá, cây ra hoa sớm, nhiều quả nhỏ, chín sớm, chất lượng kém.

* Biện pháp phòng trừ: Sử dụng cây giống sạch bệnh, tiêu huỷ các cây bị nhiễm bệnh. Phun thuốc BVTV phòng trừ các loại môi giới truyền bệnh giống như bệnh Greening.

3.3. Bệnh vàng lá thối rễ

Cần phân biệt rõ bệnh vàng lá Greening, bệnh Tristeza và vàng lá thối rễ để có biện pháp đối phó thích hợp.

Bệnh thường gây hại trên những vườn cam quýt trồng sâu gốc, tủ bầu sát gốc, thường xuyên bón phân chuồng tươi, bệnh phát sinh nhiều vào mùa mưa. Bệnh vàng lá thối rễ do nấm gây ra, nấm bệnh lưu tồn trong đất gây hại vùng rễ, nhất là ở các chân đất có mực thủy cấp cao, thoát nước kém sau mùa mưa lũ. Lá bị vàng cả phiến lá và gân lá, có thể vàng một vài nhánh hay trên toàn cây, ban đầu các lá già vàng trước sau đó đến các lá non.

Quan sát bộ rễ phía cành cây bị bệnh thì thường thấy những rễ theo hướng này bị hư thối, đặc biệt rễ non bị thối và tuột khỏi vỏ, rễ mất khả năng hấp thu nước và dinh dưỡng nuôi cây.

Hình ảnh: Cây bị bệnh Vàng lá thối rễ

* Biện pháp phòng, trừ:

- Cần thoát nước tốt sau các trận mưa. Thu gom tất cả quả rụng cho xuống hố và rắc ủ phân hữu cơ TRICHO vi sinh vật theo đúng liều lượng hướng dẫn. Sau đó phủ kín bằng nylon hạn chế sự lây lan của nấm bệnh.

- Tiêu hủy ngay những cây bị vàng nặng không có khả năng hồi phục ra khỏi vườn cây bưởi, sau đó rắc vôi bột vào khu vực cây bị tiêu hủy để khống chế nguồn bệnh lây lan.

- Triển khai cắt bỏ những cành lộc vàng đem tiêu hủy.

- Xới xáo nhẹ 5 – 10 cm vùng đất bốn xung quanh tán cây bưởi. Dùng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium phun đều lên tán cây hoặc tưới gốc theo khuyến cáo của nhà sản xuất 2 lần, mỗi lần cách nhau 5-7 ngày vào đất

- Tưới phân kích rễ theo khuyến cáo của nhà sản xuất, tưới 1 lần/tuần, tưới theo hình tán cây bưởi để bộ rễ tơ mới phát triển (có thể sử dụng phân bón TrimixDT Super Roots hoặc Trimix DT02, Bioking, Đạm cá).

- Sau đó tưới đủ ẩm thường xuyên trong những ngày nắng, khô hạn và bón bổ sung phân bón NPK tổng hợp hàng tháng để khắc phục được hiện tượng nêu trên.

3.4. Bệnh loét: Bệnh do Vi khuẩn gây ra, bệnh hại cả trên lá, cành, quả, bệnh thường xâm nhiễm từ mặt dưới lá, bệnh phát sinh gây hại mạnh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm. Triệu trứng là vết loét hình tròn màu nâu, sù sì, có quầng vàng xung quanh.

Hình ảnh: Cây, quả bị bệnh loét

3.5. Bệnh ghẻ nhám

- Trên lá non: Ban đầu vết bệnh chỉ là một chấm nhỏ mất màu, chỗ vết bệnh trong mờ. Sau đó vết bệnh lớn dần, màu đỏ nâu. Dần dần vết bệnh tạo thành mụn cóc nhô lên khỏi mặt lá, nhiều vết bệnh mọc dày đặc, sờ lên mặt lá thấy mụn rộp, làm cho lá vặn vẹo, biến dạng. Xung quanh vết bệnh không có hoặc có một quầng vàng rất hẹp. Nếu bị tấn công trễ thì vết bệnh tập trung nhiều ở gần gân chính của lá, làm cho lá co rúm.

- Trên cành non: Vết bệnh cũng mọc nhô lên giống như trên lá, vết bệnh thường mở rộng hơn và dày đặc hơn. Nếu nhẹ vết bệnh sẽ làm cho cành sần sùi, màu vàng nhạt, có các vẩy màu vàng, khi cạo nhẹ các vẩy này sẽ tróc ra. Nếu nặng sẽ làm cho cành bị khô, chết.

- Trên quả non: Ban đầu vết bệnh nhỏ, sau đó lớn dần theo độ lớn của trái, vết bệnh nổi gờ, nhú lên như hình chóp nhọn ở trên vỏ trái, làm cho vỏ trái sần sùi, vỏ dày, khô, ít nước và dễ bị rụng. Có những trái bị nặng vết bệnh nhiều dày đặc giống như rải cám trên vỏ, nên có người gọi là bệnh “da cám".

Hình ảnh: Lá, quả bị bệnh ghẻ nhám

* Biện pháp phòng, trừ bệnh loét và bệnh ghẻ nhám

- Vườn cần có hệ thống thoát nước tốt, không trồng cây giống bị bệnh, trồng mật độ hợp lý, không trồng cây qúa dày để tạo thông thoáng cho vườn

- Cắt và thu gom cành, lá, quả bị bệnh đem tiêu hủy nguồn bệnh.

- Những vườn cây bị bệnh không tưới nước lên tán cây vào buổi chiều mát, không tưới thừa nước.

- Đốn tỉa tạo tán định kỳ để vườn cây thông thoáng, tránh tạo vết thương cơ giới cho nấm, vi khuẩn xâm nhập.

- Bón phân cân đối NPK, tăng cường bón thêm phân kali cho vườn cây đang bị bệnh.

- Trị bệnh bằng cách phun dung dịch Boocđo 1%, hoặc thuốc có hoạt chất Mancozeb... với nồng độ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

3.6. Bệnh phấn trắng:

Nếu thời tiết có độ ẩm cao, mưa nhiều, trời âm u thiếu ánh nắng bệnh nấm phấn trắng phát triển có thể thành dịch nếu không phòng trừ kịp thời; trong giai đoạn ra hoa, đậu quả bưởi non bệnh thường gây hại nặng làm rụng hoa, quả bưởi non.

Hình ảnh: Bệnh nấm phân trắng

* Biện pháp phòng, trừ:

Cắt tỉa cành tạo độ thông thoáng cho vườn. Vệ sinh vườn cây bưởi, thu dọn các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy để diệt nguồn bệnh. Chăm sóc vườn cho cây sinh trưởng phát triển tốt, khống chế sự ra lộc rải rác. Trừ bệnh: Dùng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

3.7. Bệnh thán thư:

Trên lá bệnh tạo thành các đốm màu nâu, khô, hình hơi tròn, vết bệnh phát triển lớn lên và liên kết nhau làm khô cháy một mảng lá, làm lá vàng úa và rụng hàng loạt, nhiều chùm hoa bị rụng hoàn toàn, quả non cũng bị rụng, quả lớn bị thối. Bệnh thán thư phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết mưa nhiều, ẩm độ cao, khi cây ra đọt và lá non nhiều.

Hình ảnh: Bệnh thán thư

* Biện pháp phòng, trừ:

- Cắt tỉa cành tạo độ thông thoáng cho vườn.

- Cắt bỏ các cành, lá, quả bị bệnh. Vệ sinh vườn, thu dọn các bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy để diệt nguồn bệnh. Chăm sóc vườn cho cây sinh trưởng phát triển tốt, cây khỏe. Trừ bệnh: Dùng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

3.8. Bệnh đốm rong.

Trên thân và cành già lúc đầu vết bệnh chỉ là những chấm nhỏ màu xanh, sau đó lớn dần, có hình tròn hoặc hình bầu dục, trên vết bệnh có một lớp lông tơ mịn, màu xanh rêu, giữa vết bệnh có màu đỏ gạch cua. Trên lá, vết bệnh là những đốm tròn hoặc hơi tròn, hơi nổi lên cao hơn bề mặt của phiến lá một chút. Do có lớp rong phát triển nên nhìn giống như một lớp nhung mịn, màu nâu đỏ gạch cua.

Bệnh đốm rong thường xuất hiện và gây hại cây vào mùa mưa. Những vườn không được chăm sóc chu đáo, những vườn trồng quá dày làm cho vườn cây luôn rậm rạp, không thông thoáng... thường bị bệnh gây hại nhiều hơn.

Hình ảnh: Bệnh đốm rong

* Biện pháp phòng, trừ:

- Cắt tỉa cành tạo độ thông thoáng cho vườn.

- Chăm sóc vườn cho cây sinh trưởng phát triển tốt, cây khỏe. Trừ bệnh: Dùng thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium phun theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

3.9. Bệnh thối mốc lục, mốc xanh: Bệnh hại chủ yếu vào giai đoạn sắp thu hoạch và trong thời gian bảo quản quả. Nấm gây bệnh lan truyền từ quả bị bệnh sang quả khỏe.

Hình ảnh: Bệnh thối mốc lục, mốc xanh

* Biện pháp phòng, trừ

- Vệ sinh vườn quả, thu các quả bị nhiễm bệnh thối mốc đem tiêu hủy.

- Không thu hoạch các quả có triệu chứng bị bệnh. Loại bỏ trái bị bệnh khỏi các thùng đựng trái ngay khi phát hiện vì bệnh lây lan và phát tán rất nhanh. Không thu hoạch quả khi trời mưa ẩm.

- Nấm Penicilium chủ yếu tấn công vào vết thương cho nên việc tránh làm bầm giập trái là rất cần thiết để tránh bệnh này xảy ra trên trái khi thu hoạch.

- Sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Fosetyl Aluminium với nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất, phun trước khi thu hoạch và đảm bảo thời gian cách ly cho phép có thể khống chế được bệnh rất tốt.

VI. Thu hoạch, bảo quản và vận chuyển sản phẩm

- Thu hoạch sản phẩm phải đảm bảo thời gian cách ly đối với thuốc BVTV theo quy định hiện hành hoặc hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Cần thu hoạch vào thời điểm sản phẩm có chất lượng tốt nhất.

- Khi hái quả phải dùng kéo cắt cuống quả, không làm xây xát vỏ, gẫy cành, rụng lá, quả để ở nơi thoáng mát phân loại chờ vận chuyển đến nơi bảo quản và tiêu thụ.

- Phải có biện pháp kiểm soát tránh sự xâm nhập của động vật vào khu vực sản xuất trong giai đoạn chuẩn bị thu hoạch và thời điểm thu hoạch, nhà sơ chế và bảo quản sản phẩm.

- Nơi bảo quản sản phẩm phải sạch sẽ, ít có nguy cơ ô nhiễm sản phẩm.

Các bài liên quan